Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống khoa bảng ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn Cừ sớm giác ngộ cách mạng, đi theo lý tưởng Bác Hồ vĩ đại. Từ khi mới 15 tuổi, đồng chí đã được tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giới thiệu đi “vô sản hoá” vào tháng 8/1928 ở vùng mỏ Đông Bắc. Chỉ một năm sau, đồng chí đã trở thành người chỉ đạo trực tiếp phong trào công nhân, phong trào cộng sản ở khu vực có lực lượng công nhân đông đảo nhất lúc bấy giờ. Từ đó, đồng chí nhanh chóng thể hiện rõ bản năng của một nhà lãnh đạo tài ba của Cách Mạng Việt Nam, trở thành Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng ta khi chưa đầy 26 tuổi.
Một nhà lãnh đạo kiệt xuất
Là cán bộ hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, đồng chí có điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều công nhân, lao động ở nhiều ngành nghề khác nhau. Chỉ sau một năm “vô sản hoá”, năm 1929, ở tuổi 17, Nguyễn Văn Cừ đã trở thành người trực tiếp chỉ đạo phong trào công nhân, phong trào cộng sản ở khu vực có số lượng công nhân tập trung lớn nhất nước ta.
Đồng thời, đồng chí Nguyễn Văn Cừ trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đông Dương cộng sản Đảng. Cuối tháng 2/1930, đồng chí thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở mỏ Mạo Khê - chi bộ đầu tiên của Đảng ta ở vùng mỏ Quảng Ninh. Sau đó, dưới sự chỉ đạo của đồng chí, các chi bộ Đảng ở Uông Bí, Vàng Danh, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông lần lượt ra đời. Tháng 02/1931, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp bắt và giam cầm ở các nhà tù Hòn Gai, Hoả Lò rồi lưu đày đi Côn Đảo. Chính những năm tháng tù đày khổ ải, Nguyễn Văn Cừ đã cùng đồng chí của mình biến nơi tù đày thành trường học cách mạng, thành nơi trui rèn ý chí, bản lĩnh người chiến sĩ cách mạng.
Đó còn là một nhà lý luận xuất sắc của Đảng. Tuy chưa ra nước ngoài học tập, nghiên cứu về hoạt động phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nhưng tinh thần quốc tế vô sản được thể hiện rõ nét trong từng câu, chữ của những bài viết, tác phẩm của Nguyễn Văn Cừ. Đó là các bài kêu gọi người cộng sản và các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam ủng hộ Cách mạng Trung Quốc, Liên Xô như: “Giúp Tàu (Trung Quốc) là nhiệm vụ của hết thảy mọi người yêu mến tự do và hòa bình. Giúp Tàu là một bộ phận trong việc phòng thủ Đông Dương.”; “Chung quanh vấn đề Nhật chiếm Hải Nam”; “ Cùng ông Nguyễn Văn Sâm chủ nhiệm báo Tự Do”… Tháng 6/1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ viết: “Người cộng sản chẳng bao giờ hô hào những chuyện cao xa viển vông cho sướng miệng nhưng căn cứ vào sự thực, đồng thời nắm lấy sự đi tới (ledevenir) của sự vật, hiểu thấu luật tiến hóa của xã hội... để khi tình thế thay đổi thì chính sách sẽ thay đổi”. Với khả năng nhạy bén nắm bắt tình hình trong và ngoài nước, thêm vào khả năng lý luận chính trị xuất sắc, Nguyễn Văn Cừ đứng đầu bộ máy nhà nước ta lúc bấy giờ đã đưa đất nước giảm bớt tổn thất cho Đảng khi chiến cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai nổ ra vào năm 1939, đồng thời góp phần đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc ta tiến lên. Từ đây người chiến sĩ ấy đã chỉ đạo thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng mà ngày nay nhân dân ta hay nhắc đến - giai đoạn cách mạng những năm 1938-1342 - giai đoạn cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Ngày 6/11/1939, chỉ sau hai tháng cuộc đại chiến thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ triệu tập hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, tại Bà Điểm- Hóc Môn - Gia Định. Trên cơ sở thống nhất những nhận định và xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn cách mạng mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 đã chủ trương chuyển hướng: Khẩu hiệu cách mạng ruộng đất lúc này tạm gác lại; Khẩu hiệu thành lập chính quyền xô viết công, nông, binh được thay thế bằng khẩu hiệu thành lập chính quyền dân chủ cộng hòa; phương pháp cách mạng cũng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Rõ ràng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương (tháng 11/1939) đã quyết định những vấn đề cực kỳ quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc - giai cấp, giai cấp - dân tộc, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận và phương pháp cách mạng trong tình hình lịch sử mới. Đây là những quyết định hoàn toàn chính xác, kịp thời và phù hợp với sự biến đổi của tình hình quốc tế và trong nước, đã đưa tới cao trào giải phóng dân tộc (1941 - 1945) và thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám như Bác Hồ đã nhận định trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5/1941).
Một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp Cách Mạng, cho lý tưởng cao đẹp của Đảng. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một mẫu mực về phẩm chất cao quý của người cộng sản. Ngoài tinh thần say sưa học tập, rèn luyện và vươn lên không ngừng, bằng niềm tin và nghị lực, đồng chí đã biến nhà tù đế quốc thành trường lớp lý luận cách mạng, tự trang bị cho mình những hiểu biết sâu rộng về khoa học chính trị, trở thành Tổng bí thư – cán bộ lãnh đạo cao nhất của Đảng. Không chỉ là tinh thần học tập đáng khâm phục, ở đồng chí còn là một tấm gương sáng về sự liên hệ quần chúng, gắn bó máu thịt với quần chúng và vận động quần chúng. Bất kỳ ở đâu, sống giữa những người bạn phu mỏ, hay bạn tù Côn Đảo, dù là đảng viên hay lúc giữ cương vị cao nhất của Đảng, đồng chí luôn thể hiện là người cán bộ có đạo đức cách mạng trong sáng, giản dị, gương mẫu trong cuộc sống, có tác phong chan hòa, gần gũi với mọi người, có khả năng tập hợp, đoàn kết cán bộ, đảng viên và nhân dân, được nhân dân yêu mến và cảm phục.
Với kẻ thù và những phần tử phản động, phá hoại, đồng chí kiên quyết đấu tranh bác bỏ, không khoang nhượng. Với những sai lầm, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, đồng chí luôn nhỏ nhẹ, chân thành trao đổi thường xuyên, có lý, có tình góp phần quan trọng vào việc củng cố sự đoàn kết trong Đảng, chống suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên góp phần đưa cách mạng Việt Nam tiến lên. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã viết: “Người cộng sản có bổn phận nói sự thật với quần chúng, dẫn đường cho quần chúng chớ không phải theo đuôi họ hay phỉnh họ”. Và dầu cho có sai lầm, có thất bại thì “phải có can đảm mở to mắt ra nhìn sự thật”. “Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và cử tri chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Đồng chí cho rằng, Đảng “có bổn phận phải phân tích xác thực hoàn cảnh, không bi quan hoảng hốt mà cũng không đắc chí tự mãn, để tìm ra những nguyên nhân thất bại và nghiên cứu phương pháp sửa lỗi và tiến thủ”. Do đó, đồng chí yêu cầu Đảng phải: “ Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thoả hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ”.
Ở độ tuổi 26, với đức độ và tài năng xuất sắc, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được Hội nghị Trung ương 5 (tháng 3 năm 1938) nhất trí bầu làm Tổng bí thư của Đảng. Và, đồng chí Lê Duẩn đã từng nhận định: “Về tuổi đời, anh Cừ kém chúng tôi và các anh Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập từ 5 đến 10 tuổi, nhưng anh là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị, lại có khả năng đoàn kết, thuyết phục anh em. Anh là một người cộng sản có phẩm chất đạo đức rất trong sáng, được mọi người kính phục.”
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh, noi theo tấm gương học tập sáng ngời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta quyết tâm thực hiện chủ trương của Đảng, xây dựng một xã hội học tập, hướng tới một đất nước văn minh, hiện đại và phát triển. Trong đó việc nghiên cứu và học tập một trong những tài sản vô giá mà người chiến sĩ này để lại là vô cùng ý nghĩa và thiết thực. Đó là tác phẩm “Tự chỉ trích” với những quan điểm tự phê bình và phê bình trong Đảng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ: “Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những nhầm lỗi của mình và tìm phương châm sửa đổi, chống những xu hướng hoạt đầu, thỏa hiệp, như thế không phải làm yếu Đảng, mà là làm cho Đảng được thống nhất, mạnh mẽ”.
K.L (Tổng hợp)